Khủng Hoảng Tài Chính Là Gì? Nguyên Nhân Và Phân Loại

Khủng hoảng tài chính là gì? Đây chính là một cụm từ làm cho nhiều nhà đầu tư phải hoang mang và sợ hãi. Dù nhẹ hay nặng, các vấn đề tài chính đều có thể tác động tiêu cực đến nền kinh tế. Và chúng ta cần tìm hiểu rõ hơn về thuật ngữ này. Hãy cập nhật các thông tin đó qua bài viết dưới đây của Taichinh.vip nhé!

khủng hoảng tài chính là gì

Khủng hoảng là gì?

Thay đổi đột ngột hoặc nguyên nhân của một quá trình dẫn đến một vấn đề khẩn cấp cần giải quyết ngay lập tức.

Khủng hoảng tài chính là gì?

Khủng hoảng tài chính được định nghĩa là tình trạng các tài sản tài chính bị mất một phần giá trị đáng kể hoặc có sự sụt giảm mạnh về giá trị của tài sản đó.

Khủng hoảng tài chính xảy ra khi giá trị của các tổ chức tài chính hoặc tài sản sụt giảm nhanh chóng.

Chúng thường trùng hợp với sự sụp đổ của thị trường chứng khoán, khủng hoảng ngân hàng và việc nhà đầu tư rút tiền. Thường có 1 cuộc suy thoái ngay sau 1 cuộc khủng hoảng tài chính.

Đó là do tình hình kinh tế không ổn định kèm theo giá trị tài sản sụt giảm mạnh. Nói cách khác, khi giá trị của các ngân hàng hoặc khoản đầu tư giảm nhanh chóng, thường là trong vài ngày hoặc vài tuần, một cuộc khủng hoảng tài chính trên toàn cầu bắt đầu.

Dấu hiệu khủng hoảng tài chính

Khủng hoảng tài chính có thể được nhận biết bằng những dấu hiệu cơ bản sau:

  • Người dân gửi tiền vào ngân hàng, nhưng ngân hàng không có khả năng hoàn trả tiền đặt cọc.
  • Những người đi vay từ các ngân hàng, bao gồm cả những người đi vay tiềm năng, có thể không trả được đầy đủ khoản cho vay.
  • Chính phủ đã không tiếp tục áp dụng chế độ tỷ giá hối đoái cố định.
  • Tình trạng tài chính đã được tự do hóa.
  • Hệ thống ngân hàng quốc gia yếu kém và suy thoái.
  • Các định chế giám sát tài chính quốc gia cũng được giảm bớt.

Nguyên nhân khủng hoảng tài chính

Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến khủng hoảng tài chính. Một số lý do phổ biến nhất bao gồm hành vi không hợp lý của nhà đầu tư, rút ​​tiền ngân hàng đột ngột, đầu cơ dẫn đến định giá quá cao một số tài sản nhất định và thất bại ngân hàng.

Hành vi của nhà đầu tư phi lý chỉ đơn giản có nghĩa là nhà đầu tư phản ứng quá mức đối với các khoản đầu tư nhất định. Cái gọi là “hành vi phi lý trí” này có thể gây ra hiệu ứng domino trên thị trường. 

Điều này xảy ra khi một số lượng lớn các nhà đầu tư phản ứng theo cách tương tự, bằng cách thổi phồng quyền chọn mua cổ phiếu xấu hoặc bán nhanh chóng. Cả hai yếu tố đều có thể gây ra vấn đề.

Một số yếu tố, chẳng hạn như rút tiền đột ngột từ ngân hàng, thường phổ biến hơn trong quá khứ. Sau sự sụp đổ của thị trường chứng khoán năm 1929, sự hoảng loạn lan rộng.

Mọi người muốn tiền tệ cứng thay vì đầu tư vì chúng thất bại. Sau đó, họ đổ xô đến ngân hàng để rút tiền. Với rất nhiều người cố gắng rút tiền của họ cùng một lúc, các ngân hàng đang thực sự thiếu tiền mặt.

Để đầu cơ tài sản, chúng ta có thể lấy một số ví dụ, gần đây nhất là cuộc khủng hoảng dưới chuẩn 2007-2008. Trong những năm trước khi bong bóng vỡ, các nhà đầu tư đồn đoán rằng BĐS là nơi tốt để kiếm lợi nhuận.

Bởi vì tiêu chuẩn thế chấp cũng thấp, nhiều nhà đầu tư mua BĐS với hy vọng bán kiếm lời, vì vậy họ bỏ qua khả năng mất giá. Đây được coi là đầu cơ khi có hy vọng sinh lời trong tương lai mà không cần chứng thực bằng chứng.

Sự vỡ nợ xảy ra khi một cá nhân hoặc tổ chức không đáp ứng các nghĩa vụ hoặc điều kiện pháp lý của khoản vay. 

Điều này có thể có nghĩa là một người mua nhà không thanh toán khoản thế chấp của họ hoặc một doanh nghiệp không thanh toán một khoản trái phiếu đã đến hạn.

Trong cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008, ngân hàng đầu tư Lehman Brothers tuyên bố phá sản vì các khoản nợ vượt quá tài sản của công ty.

Điều quan trọng là phải nhận ra rằng 1 cuộc khủng hoảng tài chính bao gồm bất kỳ hoặc tất cả các yếu tố này, không có sự kết hợp nào xảy ra bất cứ lúc nào.

Các nhà kinh tế vẫn đang tranh luận về nguồn gốc và điều kiện của việc làm thế nào và tại sao các cuộc khủng hoảng phát sinh.

Nó có thể là bất kỳ số lượng biến nào cuối cùng dẫn đến sự sụt giảm mạnh giá trị tài sản liên quan đến cuộc khủng hoảng.

Các quy định của liên bang cũng có hiệu lực. Cuộc khủng hoảng năm 2008 một phần được cho là do sự thao túng lãi suất của Cục Dự trữ Liên bang cũng như các khoản trợ cấp và quy định lớn trong lĩnh vực nhà ở, ngân hàng và thế chấp.

Các loại khủng hoảng tài chính là gì?

Khủng hoảng tiền tệ

Tình huống tồn tại nghi ngờ liệu ngân hàng trung ương của một quốc gia có đủ ngoại tệ để duy trì tỷ giá hối đoái cố định của quốc gia đó hay không được gọi là khủng hoảng tiền tệ.

Cuộc khủng hoảng tiền tệ đã ảnh hưởng tới thị trường tài chính chứng khoán quốc tế cũng như thị trường chứng khoán trong nước.

Vì cuộc khủng hoảng tiền tệ là 1 cuộc khủng hoảng tài chính, nó là tiền thân của cuộc khủng hoảng kinh tế.

Nợ nước ngoài làm tăng mạnh nội tệ khi khủng hoảng tiền tệ xảy ra. Chúng ta đã thấy rằng 1 cuộc khủng hoảng tiền tệ có thể phá hủy các nền kinh tế mở nhưng có thể không ảnh hưởng tới các nền kinh tế ổn định.

Các chính phủ đóng một vai trò quan trọng trong việc quản lý cuộc khủng hoảng tiền tệ bằng cách đáp ứng nhu cầu dư thừa đối với một loại tiền cụ thể bằng dự trữ ngoại hối của nó, thường bằng đô la Mỹ, Euro hoặc bảng Anh.

Khủng hoảng tiền tệ ảnh hưởng tới tất cả các lĩnh vực của nền kinh tế, kể cả các lĩnh vực phi kinh tế như chính trị.

Chúng ảnh hưởng tiêu cực đến những người đứng đầu đang nắm quyền. Hậu quả của khủng hoảng tiền tệ dẫn đến sự thay đổi chính phủ, bộ trưởng tài chính hoặc thống đốc trung ương.

Dù bằng cách nào, cuộc khủng hoảng tiền tệ đã có tác động tiêu cực đến thị trường kinh tế.

Khủng hoảng ngân hàng

Khủng hoảng ngân hàng xảy ra khi khách hàng rút tiền ra khỏi ngân hàng do mất niềm tin vào hoạt động của ngân hàng. Tỷ giá ngân hàng là tiêu chuẩn ở tất cả các quốc gia.

Hoạt động của ngân hàng có thể bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố khác nhau có thể trở nên mất khả năng thanh toán.

Suy đoán rằng một ngân hàng có thể đóng cửa và ảnh hưởng đến tất cả tiền của người gửi tiền là điều khiến mọi người rút tiền của họ khỏi ngân hàng.

Sự hoảng loạn của ngân hàng là nguyên nhân chính của khủng hoảng ngân hàng và cũng là nguyên nhân gây ra khủng hoảng tài chính. Điều này dẫn đến tình trạng mất ổn định của các ngân hàng, có thể xuất hiện phá sản.

Đây là lý do tại sao các ngân hàng thường hạn chế việc rút tiền của khách hàng hoặc tại thời điểm đó, dừng hoàn toàn việc rút tiền. Mọi người có thể bắt đầu rút tiền của họ khỏi ngân hàng dựa trên mối đe dọa rằng ngân hàng có thể đóng cửa.

Nếu không được kiểm soát, mối đe dọa này sẽ dẫn đến việc rút tiền từ tất cả các ngân hàng, từ đó dẫn đến sự sụp đổ của ngân hàng và từ đó dẫn đến khủng hoảng tài chính.

Điều này sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến nền kinh tế trong dài hạn. Cũng dẫn đến sự suy thoái kinh tế của các doanh nghiệp, và nhiều doanh nghiệp đã phải đóng cửa.

Bong bóng đầu cơ

Đây còn được gọi là bong bóng kinh tế hoặc bong bóng giá trong đó giá tài sản dựa trên những quan điểm không nhất quán về tương lai.

Đã có nhiều lời giải thích cho bong bóng kinh tế, nhưng hầu hết chúng đều đi kèm với sự không chắc chắn. Bong bóng kinh tế không chắc chắn như vậy được gọi là bong bóng không đầu cơ. Hầu hết thời gian, bong bóng kinh tế có thể được phát hiện khi nhìn lại.

Trong trường hợp này, giá giảm đột ngột, còn được gọi là sự cố hoặc vỡ bong bóng. Giá cả biến động rất dễ dàng trong trường hợp bong bóng kinh tế và không thể tách rời, bảo vệ cung và cầu.

Thuật ngữ bong bóng có nguồn gốc từ bong bóng Biển Nam của Anh và đề cập đến chính các công ty đã thổi phồng cổ phiếu của họ hơn là phản ứng với cuộc khủng hoảng. Bong bóng vốn chủ sở hữu và bong bóng nợ là hai loại bong bóng đầu cơ.

Khủng hoảng tài chính quốc tế

Khi tỷ giá hối đoái cố định của một quốc gia đột ngột bị phá giá do thâm hụt tài khoản vãng lai không bền vững, nó được gọi là cán cân thanh toán hoặc khủng hoảng tài chính quốc tế.

Khi quốc gia không có khả năng thanh toán khoản nợ có chủ quyền của mình, nó được gọi là sự vỡ nợ có chủ quyền.

Khủng hoảng kinh tế rộng hơn

Điều này còn được gọi là trầm cảm hoặc suy thoái. Khi GDP âm trong hơn hai quý, nó được gọi là suy thoái. Suy thoái dẫn đến trì trệ kinh tế.

Tất cả các hoạt động kinh tế đều giảm trong thời kỳ suy thoái. Nhiều sự kiện khác nhau, chẳng hạn như 1 khủng hoảng tài chính hoặc một cú sốc thương mại, có thể gây ra suy thoái.

Suy thoái là một hiệu ứng gây ra bởi nhiều yếu tố đã thảo luận ở trên.

Khi một cuộc suy thoái kéo dài trong một thời gian dài, nó sẽ chuyển thành 1 suy thoái lớn.

Khi tăng trưởng kinh tế vắng bóng trong một thời gian dài, chúng ta có thể nói đến sự trì trệ của chính sách nền kinh tế. Tỷ lệ thất nghiệp cao thường là kết quả của sự trì trệ kinh tế.

Ví dụ về khủng hoảng tài chính

ví dụ về khủng hoảng tài chính

Khủng hoảng châu Á 1997–1998

Cuộc khủng hoảng tài chính châu Á bắt đầu ở Thái Lan vào tháng 7 năm 1997. Sau đó nó lan sang các nước khác ở Đông Á và cuối cùng có ảnh hưởng lan rộng ở Mỹ Latinh và Đông Âu.

Trước khi cuộc khủng hoảng bắt đầu, Thái Lan đã cố định tiền tệ của mình với đô la Mỹ. Sau nhiều tháng áp lực đầu cơ làm cạn kiệt dự trữ ngoại hối của đất nước, Thái Lan đã phá giá đồng tiền của mình, để đồng tiền này thả nổi trên thị trường tài chính mở. 

Đồng tiền của Malaysia, Indonesia và Singapore cũng mất giá khiến lạm phát cao lan sang các nước Đông Á, trong đó có Hàn Quốc và Nhật Bản.

Tăng trưởng giảm trên toàn châu Á, tỷ lệ đầu tư giảm và một số quốc gia bước vào suy thoái.

Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) đã vào cuộc, cung cấp các khoản vay hàng tỷ USD để giúp ổn định các nền kinh tế châu Á còn yếu ở Thái Lan, Indonesia và Hàn Quốc.

Để đổi lấy các khoản vay của mình, IMF đã yêu cầu các quy định mới nhằm giám sát và quản lý tài chính tốt hơn.

Các quốc gia nhận được các khoản vay phải tăng thuế, cắt giảm chi tiêu của chính phủ và tăng lãi suất.

Như vậy, bài viết này của Taichinh.vip đã cung cấp cho các bạn những thông tin về Khủng hoảng tài chính là gì. Bạn cần phải tìm hiểu nguyên nhân để tìm ra giải pháp hữu hiệu cho những vấn đề gặp phải khi xảy ra khủng hoảng nhé!

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.