Lịch Sử Tiền Trung Quốc và các mệnh giá Nhân Dân Tệ đang lưu hành

Đồng Nhân Dân Tệ (nghĩa đen là “tiền tệ của nhân dân”) là tiền tệ chính thức của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa từ năm 1949. Nhân Dân Tệ được phát hành bởi Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc (PBOC, ngân hàng trung ương). Tên viết tắt chính thức là CNY, mặc dù cũng thường được viết tắt là “RMB”. Vậy Tiền Trung Quốc có lịch sử như thế nào? Cùng taichinh.vip tìm hiểu ngay sau đây.

Nhân Dân Tệ Trung Quốc

Lịch sử Tiền Trung Quốc

Đồng Nhân dân tệ của Trung Quốc là loại tiền tệ mới nhất trong một lịch sử rất nhiều màu sắc. Trung Quốc là một trong những quốc gia đầu tiên trên trái đất tạo ra tiền tệ để thay thế cho việc trao đổi hàng hóa. Những đồng tiền đầu tiên, được làm từ đồng và đúc thành khuôn, được làm vào khoảng thế kỷ thứ 4 trước Công nguyên ở miền Trung Trung Quốc. Những đồng tiền này có một lỗ tròn ở giữa để chúng có thể được giữ trên dây. Gần một thế kỷ sau, hoàng đế đầu tiên của Trung Quốc, Shi Huangdi, đã đổi nó thành một cái lỗ hình vuông. Thiết kế giữ nguyên trong 2.000 năm tiếp theo. 

Lịch sử tiền Trung Quốc qua các thời kỳ

Trước Công Nguyên, Trung Quốc đã thử nghiệm tiền giấy vào khoảng năm 910 sau Công Nguyên trong thời Ngũ Đại. Nhà thám hiểm nổi tiếng Marco Polo ngạc nhiên trước loại tiền giấy, ông nói rằng hoàng đế có thể in đủ tiền để mua tất cả hàng hóa trên thế giới mà không phải trả bất kỳ chi phí nào. Tiền giấy cũng được sử dụng ở Szechwan, một khu vực thường xuyên xảy ra tình trạng thiếu đồng và được chuyển đổi thành tiền tệ dựa trên sắt. 

Rất lâu sau đó, vào năm 1889, Nhân dân tệ được xem như một đồng bạc có nguồn gốc từ đồng đô la Tây Ban Nha (peso). Đồng peso đã được lưu hành rộng rãi ở Đông Nam Á từ những năm 1600 do sự hiện diện của người Tây Ban Nha ở Guam và Philippines gần đó. Nhân dân tệ thay thế tiền mặt bằng đồng và thỏi bạc được gọi là sycees. Cùng khoảng thời gian đó, Nhân dân tệ cũng được phát hành dưới dạng tiền giấy.

Năm 1903, chính phủ bắt đầu phát hành các đồng tiền khác trong hệ thống tiền tệ Yuan. Đó là đồng 1 tiền mặt, đồng tiền mệnh giá 2, 5, 10 và 20 và đồng bạc 1, 2 và 5 tiền mặt. Kích thước của đồng xu và kim loại được sử dụng không thay đổi sau cuộc cách mạng nhưng vẫn giữ nguyên cho đến những năm 1930 khi đồng xu niken và nhôm được ra mắt.

Đồng Nhân dân tệ hiện đại của Trung Quốc còn được gọi là Nhân dân tệ (RMB) được dịch là “tiền tệ của các dân tộc”. Nó được phát hành lần đầu tiên bởi Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc của Đảng Cộng sản Trung Quốc vào tháng 12 năm 1948. Vào thời điểm đó, Trung Quốc đang tham gia vào cuộc nội chiến giữa Đảng Cộng sản và Quốc dân đảng. Vào cuối cuộc xung đột đó, những người cộng sản đã giành được đất liền và phải giải quyết tình trạng lạm phát cao mà nền kinh tế của đất nước đang phải gánh chịu. Do đó, năm 1955, một loạt Nhân dân tệ thứ hai được phát hành thay thế Nhân dân tệ cũ với tỷ lệ 10.000 Nhân dân tệ cũ đổi sang một Nhân dân tệ mới . Kinh tế ổn định, đất nước bước vào thời kỳ mới với nhiều hy vọng.

Các mệnh giá nhân dân tệ hiện tại của Trung Quốc  

Đơn vị cơ bản của Nhân Dân Tệ là Yuan , trong tiếng Trung Quốc được biểu thị bằng ký hiệu «元». Một nhân dân tệ chia thành 10 jiǎo 角. Một jiǎo được chia thành 10 fēn: 分. Đồng Nhân dân tệ phát hành cả tiền giấy và tiền xu.

  • Tiền xu bao gồm đồng 1 nhân dân tệ; 5, 2 và 1 jiao; và 5,2 và 1 fen.
  • Tiền giấy của Trung Quốc thường có các loại 1 fen (hiếm), 2 fen (hiếm), 5 fen (rất hiếm), 1 jiao, 2 jiao, 5 jiao, 1 NDT, 2 NDT, 5 NDT, 10 NDT, 20 NDT, 50 nhân dân tệ và 100 nhân dân tệ.

Trong tiếng Trung Quốc nói, “Yuan” thường được gọi là “kuai” và “jiao” gọi là “mao”. Đơn vị Fen hiếm khi được sử dụng, ngoại trừ tại các siêu thị.

Tiền Xu

Mệnh Giá Tiền Xu Trung Quốc
Tiền Xu 1 Fen, 2 Fen, 5 Fen, 1 Jiao, 2 Jiao, 5 Jiao, 1 Nhân Dân Tệ

Tiền Giấy

Tờ 1 Nhân Dân Tệ (1-Yuan)

Tờ 1 nhân dân tệ có hai loại, loại màu đỏ ra mắt năm 1996 và loại màu xanh lá cây vào năm 1999. Mặt trái của tờ tiền loại 1 nhân dân tệ năm 1996 là chân dung của hai phụ nữ thuộc hai dân tộc thiểu số và mặt sau là Vạn Lý Trường Thành. . Mặt trái của tờ 1 nhân dân tệ loại 1999 là chân dung của cựu lãnh đạo Trung Quốc Mao Trạch Đông, trong khi mặt trái là hồ Tây Hồ ở thành phố Hàng Châu, đông nam Trung Quốc.

Tờ 2 Nhân Dân Tệ (2-Yuan)

Tờ tiền 2 nhân dân tệ có màu xanh lục. Mặt trái của nó cũng là bức chân dung của hai phụ nữ từ hai dân tộc thiểu số khác, và mặt trái là Biển Đông.

Tờ 5 Nhân Dân Tệ (5-Yuan)

Tờ tiền 5 nhân dân tệ cũng có hai loại, loại màu nâu được thiết kế và phát hành vào năm 1980 trong khi loại màu tím vào năm 1999. Mặt trái của loại năm 1980 là chân dung của hai người thiểu số – một phụ nữ Tây Tạng và một người đàn ông Hồi giáo, trong khi ngược lại là một bức tranh phong cảnh của sông Dương Tử, con sông dài nhất của đất nước. Mặt trái của loại năm 1999 là chân dung của Mao Trạch Đông và mặt trái là Tả Sơn Trì, một ngọn núi ở tỉnh Sơn Đông phía đông Trung Quốc được UNESCO công nhận là di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới.

Tờ 10 Nhân Dân Tệ (10-Yuan)

Tiền giấy 10 nhân dân tệ cũng có hai loại – loại thường ra mắt vào năm 1999 trong khi loại tiền đặc biệt được phát hành vào ngày 8 tháng 7 bởi ngân hàng trung ương để đánh dấu Thế vận hội Olympic Bắc Kinh. Mặt trái của bức dị thường là chân dung Mao Trạch Đông trong khi mặt trái của nó là bức vẽ Tam Hiệp phong cảnh. Tờ tiền đặc biệt phát hành vào ngày 8 tháng 8 có hình Sân vận động Quốc gia, hoặc Tổ chim, trên mặt trái của nó, trong khi mặt trái của nó có bức tượng đá cẩm thạch cổ đại nổi tiếng của Hy Lạp về một vận động viên ném đĩa, Discobolus, chân dung của các vận động viên và chữ số Ả Rập “2008 “.

Tờ 20 Nhân Dân Tệ (20-Yuan)

Tờ tiền 20 nhân dân tệ, ra mắt năm 1999, có chân dung Mao Trạch Đông và mặt trái của nó có hình vẽ cảnh sông Lệ Giang ở miền Nam Trung Quốc.

Tờ 50 Nhân Dân Tệ (50-Yuan)

Tờ tiền 50 nhân dân tệ có hai loại – một màu vàng và hồng ra mắt năm 1990 trong khi loại còn lại màu xanh lá cây được phát hành năm 1999. Loại trước có chân dung một trí thức, một nông dân và một công nhân trên mặt trái của nó trong khi các đặc điểm ngược lại. Thác Hukou trên sông Hoàng Hà. Loại tiền giấy năm 1999 hiện đang được lưu hành rộng rãi hơn. Mặt trái của nó là chân dung Mao Trạch Đông và mặt trái là Cung điện Potala nổi tiếng ở Lhasa.

Tờ 100 Nhân Dân Tệ (100-Yuan)

Tờ 100 nhân dân tệ cũng có hai loại – một loại màu xanh xám ra mắt năm 1990 và loại màu đỏ được phát hành lần đầu vào năm 1999. Loại tiền năm 1990 có hình chân dung của bốn cựu lãnh đạo Trung Quốc, đó là Mao Trạch Đông, Chu Ân Lai. , Liu Shaoqi và ZhuDe, mặt trái của nó trong khi mặt trái của nó là núi Jinggangshan ở Nam Trung Quốc. Rất ít tờ 100 nhân dân tệ loại 1990 hiện được lưu hành ở Trung Quốc.

Mặt trái của tờ 100 nhân dân tệ loại 1999 là chân dung Mao Trạch Đông trong khi mặt sau in hình Đại lễ đường Nhân dân.

Quy đổi tiền tệ Trung Quốc sang tiền Việt

Tỷ giá tiền Trung Quốc 2022


Tỷ giá hối đoái CNY/VND 3472.87 đã cập nhật 43 phút trước

100 Tệ Bằng Bao Nhiêu Tiền Việt?

Theo tỷ giá cập nhật ở trên thì

  • 1 Nhân Dân Tệ = 3.460,65 VND
  • 100 Nhân Dân Tệ = 346.065,31 VND
  • 10000 Nhân Dân Tệ = 34.606.531,22 VND

1 triệu Tệ bằng bao nhiêu tiền Việt

1 Triệu Tệ = 3.458.927.750,54 VND

Kết luận

Taichinh.vip vừa gửi đến các bạn lịch sử Tiền Trung Quốc và các mệnh giá đồng Nhân Dân Tệ qua các thời kỳ. Follow website của bên mình để cập nhật nhiều thông tin hay và bổ ích hơn nhé.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.