Giá Trị Thặng Dư Là Gì? Nguồn Gốc – Bản Chất Của Giá Trị Thặng Dư

Giá trị thặng dư là gì? Đây là một thuật ngữ được sử dụng nhiều trong lĩnh vực kinh tế. Vẫn có nhiều người chưa hiểu rõ về ý nghĩa của nó. Thực ra, đây chính là phần thặng dư ngoài giá trị sức lao động do công nhân tạo ra và bị nhà tư bản chiếm giữ, giá trị thặng dư là nguồn thu nhập của nhà tư bản và các giai cấp bóc lột trong CNTB. Bạn có thể tham khảo bài viết hôm nay của Taichinh.vip để hiểu rõ hơn về cụm từ này nhé!

giá trị thặng dư là gì

Giá trị thặng dư là gì?

Giá trị thặng dư là phần thặng dư ngoài giá trị sức lao động do công nhân tạo ra và bị nhà tư bản chiếm giữ. Nó được xem là nguồn thu nhập của nhà tư bản và các giai cấp bóc lột trong CNTB.

Nghiên cứu học thuyết giá trị thặng dư của C. Mác cũng có nghĩa là chúng ta nghiên cứu học thuyết chiếm vị trí “hòn đá tảng” trong mọi học thuyết kinh tế của C.Mác, một trong những phát kiến ​​vĩ đại của C.Mác. C. Mác đã làm sáng tỏ bản chất của quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa.

Khi sức lao động trở thành hàng hoá, tiền tệ sẽ hình thành tư bản và gắn liền với nó, một quan hệ sản xuất mới xuất hiện: quan hệ giữa lao động tư bản và lao động làm công ăn lương. 

Thực chất của mối quan hệ này là nhà tư bản chiếm đoạt giá trị thặng dư của những người làm công ăn lương. Thực chất của mối quan hệ này là nhà tư bản chiếm đoạt giá trị thặng dư của những người làm công ăn lương.

Có thể nói, thông qua giá trị thặng dư, thực chất của chủ nghĩa tư bản là bóc lột người lao động để tạo ra nhiều thặng dư cho mình. Càng bóc lột công nhân thì giá trị thặng dư càng được tạo ra.

Ví dụ về giá trị thặng dư

Để giúp bạn đọc hiểu rõ hơn về giá trị thặng dư là gì ?, chúng tôi xin đưa ra một ví dụ về giá trị thặng dư.

Giả sử rằng để sản xuất 10kg sợi thì cần 10 kg bông, giá của 10 kg bông là 10 đô la. Để biến bông này thành chỉ, một công nhân phải làm việc 6 giờ và hao mòn của máy là 2 đô la; giá trị công việc của một công nhân mỗi ngày là 3 đô la; trong một giờ làm việc, người công nhân đã tạo ra giá trị là 0,50 đô la; Cuối cùng, chúng tôi giả định rằng trong quá trình sản xuất sợi, thời gian lao động cần thiết về mặt xã hội bị lãng phí.

Như vậy, nếu kéo dài quá trình lao động đến mức bù đắp được giá trị sức lao động (6 giờ), tức là bằng thời gian lao động cần thiết thì không có sản xuất. giá trị thặng dư mà tiền chưa chuyển hóa thành tư bản.

Nguồn gốc và bản chất của giá trị thặng dư

nguồn gốc và bản chất của giá trị thặng dư

Theo Các Mác, kết quả của lao động cụ thể tạo ra giá trị sử dụng của hàng hoá. Lao động cụ thể là lao động được sử dụng trong một hình thức cụ thể của một nghề chuyên môn nhất định, có mục đích riêng, đối tượng riêng, hoạt động riêng, phương tiện riêng và kết quả riêng của nó.

Trong sản xuất hàng hoá giản đơn, tính hai mặt của lao động sản xuất hàng hoá là biểu hiện của mâu thuẫn giữa lao động tư nhân và lao động xã hội của người sản xuất hàng hoá.

Qua nghiên cứu, Mác đã đi đến kết luận: “Tư bản không thể xuất hiện từ lưu thông mà cũng không xuất hiện ở người lưu thông. Nó phải xuất hiện trong lưu thông và đồng thời không phải trong lưu thông”. Để giải quyết mâu thuẫn ấy, ông đã phát hiện ra nguồn gốc của giá trị thị trường – sức lao động.

Quá trình sản xuất TBCN là quá trình sản xuất ra giá trị sử dụng và sản xuất ra giá trị thặng dư. Phần giá trị mới lớn hơn giá trị sức lao động được tính như sau: Giá trị sức lao động + Giá trị thặng dư.

Vì thế, giá trị thặng dư là giá trị mới còn lại từ giá trị sức lao động do công nhân tạo ra và bị nhà tư bản chiếm đoạt.

Để hiểu rõ bản chất của quá trình sản xuất ra giá trị thặng dư, Mác đã chia tư bản thành hai bộ phận: tư bản bất biến và tư bản khả biến.

Trong đó:

– Tư bản bất biến là phần tư bản tồn tại dưới hình thức tư liệu sản xuất, giá trị được bảo toàn và chuyển thành sản phẩm từ giá trị không thay đổi về lượng trong quá trình sản xuất, kí hiệu là c.

– Tư bản khả biến là phần tư bản biểu hiện dưới hình thức giá trị sức lao động trong quá trình sản xuất đã tăng lên về lượng, kí hiệu là v.

Giá trị hàng hoá của hàng hoá bằng giá trị của tư bản bất biến mà nó chứa đựng, cộng với giá trị của tư bản khả biến.

Qua sự phân chia tư bản cố định và tư bản khả biến, ta thấy bản chất tư bản bóc lột, chỉ có sức lao động của công nhân mới tạo ra giá trị thặng dư của nhà tư bản. Tư bản đã bóc lột một phần giá trị mới do người lao động tạo ra. 

Như vậy, giá trị mà tư bản bỏ ra là giá trị c + v. Những giá trị mà tư bản thu được là c + v + m. Phần m là phần thừa mà tư bản khai thác được.

Các yếu tố ảnh hưởng đến giá trị thặng dư

Các yếu tố ảnh hưởng đến giá trị thặng dư bao gồm:

– Năng suất lao động: là lượng sản phẩm do người lao động sản xuất ra trong một đơn vị thời gian.

– Thời gian lao động: là lượng thời gian lao động cần thiết để sản xuất ra một loại hàng hoá nào đó trong điều kiện sản xuất bình thường của xã hội, với trình độ trang thiết bị bình thường, có trình độ tay nghề, kỹ năng bình thường và cường độ lao động bình thường trong công ty tại thời điểm đó.

– Cường độ lao động: là sự hao phí trí lực (thần kinh) và cơ bắp của người lao động trong quá trình sản xuất một đơn vị thời gian hoặc kéo dài thời gian sản xuất, hoặc cả hai.

– Công nghệ sản xuất

– Thiết bị

– Vốn

– Trình độ quản lý

Giá trị thặng dư tuyệt đối và giá trị thặng dư tương đối

Giá trị thặng dư tuyệt đối là phương pháp sản xuất ra giá trị thặng dư bằng cách kéo dài thời gian lao động thặng dư nếu năng suất lao động, giá trị sức lao động và thời gian lao động cần thiết không đổi.

Giá trị thặng dư tương đối là phương thức sản xuất ra giá trị thặng dư bằng cách rút ngắn thời gian lao động cần thiết bằng cách hạ thấp giá trị sức lao động, do đó làm tăng thời gian lao động dư thừa khi điều kiện của ngày lao động, cường độ lao động không thay đổi.

Phương thức sản xuất giá trị thặng dư trong nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa

Marx đã chỉ ra hai phương pháp thường được chủ nghĩa tư bản sử dụng là sản xuất giá trị thặng dư tương đối và sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối.

Thứ nhất: Về phương thức sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối. Đó là phương pháp sản xuất ra giá trị thặng dư bằng cách kéo dài thời gian lao động dư thừa trong khi năng suất lao động, giá trị sức lao động và thời gian lao động nhất thiết không đổi.

Thứ hai: Về phương thức sản xuất giá trị thặng dư tương đối. Là phương thức sản xuất giá trị thặng dư bằng cách rút ngắn thời gian lao động cần thiết bằng cách hạ thấp giá trị sức lao động, do đó làm tăng thời gian lao động dư thừa trong điều kiện ngày không lao động và cường độ lao động.

Công thức tính tỷ suất giá trị thặng dư

công thức tính tỷ suất giá trị thặng dư

Tỷ suất giá trị thặng dư được tính bằng cách sử dụng các số liệu liên quan đến giá trị thặng dư của người sử dụng lao động cần thiết để tạo ra giá trị thặng dư này theo tỷ lệ phần trăm.

Ý nghĩa: Trong một ngày lao động, bao nhiêu phần trăm thời gian lao động cần thiết của người lao động (nhà tư bản) mà người sử dụng lao động (nhà tư bản) phải bỏ ra để họ được hưởng tiền công.

Công thức tính giá trị thặng dư

  • Tỷ suất lợi nhuận vốn là: M ‘= M / V * 100%

Trong đó:

  • M ‘là tỷ suất giá trị thặng dư
  • M là giá trị thặng dư và v là tư bản khả biến.

Ngoài ra, có một công thức khác: M ‘= T’ / T * 100%

Trong đó:

  • M ‘là tỷ suất giá trị thặng dư
  • T ‘là thời gian làm việc quá sức
  • t là thời gian lao động cần thiết.

Trên đây là nội dung giải đáp thắc mắc về Giá trị thặng dư là gì?, nếu có thắc mắc khác liên quan đến bài viết, vui lòng liên hệ với chúng tôi – Taichinh.vip để được hỗ trợ một cách kịp thời nhất nhé!

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.